Bệnh Hodgkin – nguyên nhân gây bệnh, triệu chứng của bệnh và cách điều trị bệnh Hodgkin

Bệnh Hodgkin – nguyên nhân gây bệnh, triệu chứng của bệnh và cách điều trị bệnh Hodgkin 

Hệ bạch huyết là hệ thống phòng vệ quan trọng trong cơ thể người. Hệ bạch huyết bao gồm bạch huyết, mạch bạch huyết, mô bạch huyết, hạt/mấu bạch huyết, hạch bạch huyết, hạch họng, lá lách, và tuyến ức.

Hệ thống bạch huyết cũng tham gia vào sản xuất tế bào máu trắng, gọi là tế bào lympho, giúp bảo vệ cơ thể chống lại các bệnh truyền nhiễm như vi khuẩn, virus và nấm. Khi hệ bạch huyết đang phải chiến đấu với nhiễm trùng, một số hạch bạch huyết và các mô trong khu vực nhiễm trùng trở nên sưng đau. Điều này là hoàn toàn bình thường.

Ung thư hạch bạch huyết xảy ra khi các tế bào bạch huyết bắt đầu nhân lên không kiểm soát được, sản xuất các tế bào ác tính với khả năng bất thường để xâm nhập các mô khác trong cơ thể của bạn.

Hai loại chính của ung thư hạch là bệnh Hodgkin (còn được gọi là u lympho Hodgkin) và u lympho không Hodgkin. Chúng được phân loại dựa vào sự có mặt của tế bào Reed-Sternberg. Nếu tế bào hạch bạch huyết được quan sát dưới kính hiển vi có chứa tế bào này thì được coi là u lympho Hodgkin. Ngược lại, nếu tế bào Reed-Sternberg không có mặt, được phân loại là u lympho không Hodgkin.

Bệnh u lymphô Hodgkin, còn được gọi là bệnh Hodgkin, ung thư hạch Hodgkin là một loại bệnh ung thư của hệ thống bạch huyết của cơ thể, một phần của hệ thống miễn dịch. Tìm hiểu bệnh Hodgkin là gì? Các nguyên nhân gây bệnh, triệu chứng của bệnh và các cách điều trị bệnh Hodgkin

1. Bệnh Hodgkin là gì?

Hodgkin là một trong nhóm các ung thư được gọi là u lymphô. Bệnh Hodgkin là một u lymphô không phổ biến, chiếm khoảng dưới 1% tất cả các ung thư ở một số nước. Các ung thư khác của hệ thống bạch huyết được gọi là các u lymphô không Hodgkin.

Hệ thống bạch huyết là một phần của hệ thống miễn dịch của cơ thể. Nó giúp cơ thể chống lại bệnh và nhiễm khuẩn. Hệ thống bạch huyết gồm một lưới các bạch mạch mỏng và chia nhánh vào các mô khắp cơ thể giống như các huyết quản. Các mạch bạch huyết dẫn lưu bạch huyết, một loại dịch là nước, không màu chứa các tế bào chống nhiễm khuẩn được gọi là lymphô bào. Dọc theo lưới bạch mạch này là các cơ quan nhỏ được gọi là các hạch bạch huyết. Các cụm hạch này được tìm thấy ở cổ, nách, bẹn, lồng ngực và ổ bụng. Các phần khác của hệ thống bạch huyết là lách, tuyến ức, amiđan và tuỷ xương. Mô bạch huyết cũng được tìm thấy ở các phần khác của cơ thể, bao gồm dạ dày, ruột non và da.

Ung thư là một nhóm nhiều bệnh liên quan với nhau, bắt đầu trong các tế bào, đơn vị sống cơ bản của cơ thể. Để hiểu về bệnh Hodgkin, cần phải hiểu về các tế bào bình thường và điều gì xảy ra khi chúng trở thành ung thư. Cơ thể được tạo thành từ nhiều loại tế bào. Bình thường, các tế bào phát triển và phân chia để tạo ra nhiều tế bào hơn chỉ khi cơ thể cần đến chúng. Quá trình có trật tự này giúp giữ cho cơ thể khỏe mạnh. Đôi khi các tế bào duy trì sự phân chia khi các tế bào mới là không cần thiết, tạo nên một khối mô thừa. Khối này được gọi là khối u. Các u có thể lành tính (không ung thư) hoặc ác tính (ung thư).

Trong bệnh Hodgkin, các tế bào của hệ thống bạch huyết trở thành bất thường. Chúng phân chia quá nhanh và phát triển không có trật tự và sự kiểm soát. Vì mô bạch huyết có ở nhiều phần của cơ thể, bệnh Hodgkin có thể bắt đầu ở bất cứ vị trí nào. Bệnh Hodgkin có thể xảy ra ỏ một hạch đơn độc, một nhóm các hạch hoặc trong các phần khác của hệ thống bạch huyết, chẳng hạn như tủy xương và lách. Loại ung thư này có xu hướng lan tràn một cách khá thứ tự từ một nhóm các hạch này đến nhóm các hạch khác. Ví dụ, bệnh Hodgkin thường bắt đầu ở các hạch bạch huyết ở cổ trên xương đòn (còn gọi là hố thượng đòn), rồi tới các hạch ở nách và lồng ngực. Thông thường, nó có thể lan tràn tới hầu như bất kỳ một phần nào khác của cơ thể.

2. Các yếu tố nguy cơ của bệnh Hodgkin

Các nhà khoa học trên thế giới đang nghiên cứu về bệnh Hodgkin. Họ đang cố gắng tìm hiểu nhiều hơn về những nguyên nhân gây bệnh Hodgkin và các phương pháp điều trị có hiệu quả hơn.

Đến nay, người ta chưa biết rõ về nguyên nhân của bệnh Hodgkin. Các bác sĩ hoàn toàn không thể cắt nghĩa được vì sao người này mắc bệnh và những người khác không bị bệnh. Tuy nhiên, rõ ràng là bệnh Hodgkin không phải gây nên do một chấn thương, nó cũng không phải là một bệnh lây, một người không thể nhiễm bệnh Hodgkin từ một người khác.

Bằng việc nghiên cứu các hình thái của ung thư trong quần thể dân, các nhà nghiên cứu tìm thấy một số yếu tố nguy cơ phổ biến hơn ở những người mắc bệnh Hodgkin hơn là ở những người không mắc bệnh. Tuy nhiên, có người có các yếu tố nguy cơ này không mắc bệnh Hodgkin và nhiều người đã mắc bệnh này không có bất kỳ yếu tố nguy cơ nào.

Dưới đây là một số yếu tố nguy cơ kết hợp với bệnh:

–    Tuổi/ giới: bệnh Hodgkin thường xảy ra ở lứa tuổi giữa 15 và 34 tuổi và ở những người trên 55 tuổi. Bệnh phổ biến hơn ở nam so vói nữ.

–    Lịch sử gia đình: các anh em và chị em của những người mắc bệnh Hodgkin có nguy cơ phát sinh bệnh cao hơn nguy cơ trung bình.

–    Các virus: virus ép- tanh- ba (Epstein- Barr) là một tác nhân nhiễm khuẩn có thể kết hợp với nguy cơ mắc bệnh Hodgkin.

Những người sợ có nguy cơ mắc bệnh Hodgkin cần hỏi bác sĩ về bệnh, các triệu chứng để theo dõi và có kế hoạch kiểm tra thích hợp. Lời khuyên của bác sĩ sẽ dựa trên tuổi, tiền sử bệnh và các yếu tố khác.

3. Triệu chứng của bệnh Hodgkin

Các triệu chứng của bệnh Hodgkin có thể bao gồm:

–    Sưng đau các hạch bạch huyết ở vùng cổ, nách hoặc bẹn.

–    Sốt tái phát không rõ nguyên nhân (không cắt nghĩa được).

–    Ra mồ hôi ban đêm.

–    Sút cân không cắt nghĩa được.

–    Ngứa da.

Khi các triệu chứng trên xảy ra, chúng không phải là dấu hiệu chắc chắn của bệnh Hodgkin. Trong nhiều trường hợp, chúng được gây nên do các bệnh khác ít trầm trọng hơn, chẳng hạn như cúm. Tuy nhiên, khi các triệu chứng trên tồn tại, điều quan trọng là cần đi khám bệnh để được chẩn đoán và điều trị. Chỉ có bác sĩ mới có thể chẩn đoán được bệnh Hodgkin. Cũng không nên đợi đến khi bệnh có triệu chứng đau, bệnh Hodgkin giai đoạn sớm không gây đau.

4. Chuẩn đoán và định giai đoạn

Nếu nghi ngờ bệnh Hodgkin, bác sĩ sẽ hỏi về tiền sử sức khỏe và tiến hành khám thực thể để kiểm tra các dấu hiệu toàn thể của bệnh. Việc khám bệnh nhằm tìm xem các hạch bạch huyết ở cổ, nách, bẹn có bị sưng to không. Các bác sĩ cũng có thể yêu cầu xét nghiệm máu.

Bác sĩ cũng có thể yêu cầu các xét nghiệm chẩn đoán để tìm các hình ảnh bệnh bên trong cơ thể. Các xét nghiệm này bao gồm:

–    Xét nghiệm X quang: tia bức xạ năng lượng cao được sử dụng để ghi lại các hình ảnh bên trong cơ thể, chẳng hạn lồng ngực, xương, gan và lách.

–    Chụp cắt lớp vi tính: phương pháp này nhằm có được hàng loạt các hình ảnh chi tiết của các vùng bên trong cơ thể. Các hình ảnh này được tạo nên do một máy vi tính kết nối với một máy X quang.

–    Chụp cộng hưởng từ hạt nhân: các hình ảnh chi tiết của các vùng bên trong cơ thể được tạo nên bởi một máy từ tính mạnh kết nối với một máy tính

–    Chẩn đoán phụ thuộc vào sinh thiết bác sĩ phẫu thuật lấy một mẫu của mô hạch (một phần của hạch) để một nhà bệnh học (bác sĩ giải phẫu bệnh) xét nghiệm nó dưới kính hiển vi để tìm các tế bào ung thư. Các mô khác cũng có thể được lấy mẫu để xét nghiệm. Bác sĩ bệnh học nghiên cứu mô để tìm các tế bào Rit- sten- be (Reed- Sternberg), các tế bào bất thường lớn thường được tìm thấy trong bệnh Hodgkin.

Nếu sinh thiết phát hiện ra bệnh Hodgkin, bác sĩ cần biết về giai đoạn bệnh. Xác định giai đoạn bệnh là tìm một cách kỹ lưỡng xem liệu bệnh đã lan tràn chưa và nếu bệnh đã lan tràn thì các phần nào của cơ thể đã bị bệnh. Quyết định điều trị phụ thuộc vào những phát hiện này.

Bác sĩ xem xét những đặc điểm dưới đây để quyết định giai đoạn của bệnh.

–    Số lượng và vị trí của các hạch bị tổn thương.

–    Các hạch bị tổn thương ở một phía hoặc ỏ cả hai phía của cơ hoành (một lớp cờ mỏng ở dưới phổi và tim phân tách lồng ngực với ổ bụng).

–    Liệu bệnh đã lan tràn tới tuỷ xương, lách hoặc một vị trí ngoài hệ thống bạch huyết chưa, chẳng hạn như gan.

Trong việc định giai đoạn, bác sĩ có thể sử dụng các xét nghiệm như đã sử dụng để chẩn đoán bệnh Hodgkin. Các phương pháp định giai đoạn khác có thể bao gồm các sinh thiết bổ sung của các hạch, gan, tuỷ xương và các mô khác. Một sinh thiết tuỷ xương là lấy một mẫu tuỷ xương qua một kim nhỏ đưa vào xương chậu hoặc một xương dài khác. Đôi khi một phẫu thuật được gọi là soi ổ bụng được thực hiện. Trong phẫu thuật này, bác sĩ rạch một đường rạch nhỏ qua thành bụng và lấy các mẫu mô. Bác sĩ giải phẫu bệnh xét nghiệm các mẫu mô này dưới kính hiển vi để tìm các tế bào ung thư.

5. Điều trị bệnh Hodgkin

Bác sĩ lập kế hoạch điều trị thích hợp với yêu cầu của từng người bệnh. Việc điều trị bệnh Hodgkin phụ thuộc vào giai đoạn của bệnh, kích thước của các hạch to, các triệu chứng của bệnh, tuổi và tình trạng sức khỏe chung của bệnh nhân và các yếu tố khác.

Bệnh Hodgkin thường được một nhóm các chuyên gia điều trị bao gồm các nhà ung thư học nội khoa và/ hoặc các nhà ung thư học chuyên về xạ trị. Bác sĩ có thể quyết định sử dụng một phương pháp điều trị hoặc kết hợp các phương pháp điều trị.

Chuẩn bị cho việc điều trị

Nhiều người bị ung thư thường muốn học hỏi tất cả những gì họ có thể học hỏi về bệnh và việc lựa chọn điều trị của họ để họ có thể góp phần tích cực trong việc quyết định các biện pháp điều trị. Khi một người được chẩn đoán là ung thư, sốc và sang chấn tâm lý là những phản ứng tự nhiên. Người bệnh đôi khi không đủ tỉnh táo để quyết định mọi việc liên quan đến việc điều trị. Người nhà hoặc bạn bè đi cùng có thể giúp đỡ họ hỏi bác sĩ để hiểu biết rõ hơn về bệnh và cách thức điều trị.

Bệnh nhân có thể đặt ra các câu hỏi sau đây:

–    Chẩn đoán chính xác bệnh của tôi là gì ?

–    Tôi ở vào giai đoạn nào của bệnh ?

–    Phương pháp điều trị tốt nhất cho tôi là gì? Bác sĩ có thể khuyên tôi điều trị bằng phương pháp nào? Vì sao?

–    Các nguy cơ và các tác dụng phụ của mỗi loại điều trị là gì?

–    Những tác dụng phụ nào tôi cần báo cáo với bác sĩ?

–    Việc điều trị sẽ kéo dài bao lâu?

–    Các cơ hội để việc điều trị có hiệu quả là gì?

–    Việc điều trị có ảnh hưởng đến hoạt động của tôi không? Nếu có, thời gian sẽ kéo dài bao lâu?

–    Việc điều trị sẽ tốn kém như thế nào? Bảo hiểm y tế có thanh toán chi phí điều trị của tôi không?

Các phương pháp điu trị

Xạ trị và hóa trị (điều trị hóa chất) là những phương pháp điều trị phổ biến nhất trong bệnh Hodgkin, mặc dù ghép tuỷ xương, ghép tế bào nguồn ngoại vi và điều trị sinh học đang được nghiên cứu trong các thử nghiệm lâm sàng.

Xạ trị

Xạ trị là sử dụng tia X năng lượng cao để giết các tế bào ung thư. Phụ thuộc vào giai đoạn bệnh, xạ trị có thể đơn thuần (chỉ có xạ trị) hoặc kết hợp với hóa chất. Xạ trị là liệu pháp tại chỗ. Nó chỉ tác động đến các tế bào ung thư ở vùng được điều trị. Điều trị tia xạ với bệnh Hodgkin thường là xạ trị ngoài, nguồn xạ đến từ một máy hướng các tia X vào một vùng đặc hiệu của cơ thể. Xạ trị ngoài không làm cho cơ thể trở thành nguồn phóng xạ. Thường bệnh nhân được điều trị ngoại trú.

Dưới đây là các câu hỏi bệnh nhân có thể hỏi bác sĩ để biết rõ hơn về xạ trị:

–    Mục đích của điều trị này là gì?

–    Các nguy cơ và các tác dụng phụ của điều trị là gì?

–    Các tác dụng phụ nào tôi phải báo cáo với bác sĩ?

–    Xạ trị bắt đầu như thế nào?

–    Khi nào việc điều trị bắt đầu, khi nào sẽ kết thúc?

–    Tôi sẽ cảm thấy như thế nào trong khi điều trị?

–    Tôi có thể tự chăm sóc mình như thế nào trong khi điều trị?

–    Làm thế nào để tôi có thể biết được xạ trị đang có tác dụng?

–    Điều trị sẽ ảnh hưởng đến các hoạt động bình thường của tôi như thế nào?

Điều trị hóa chất (hóa trị)

Điều trị hóa chất hay còn gọi là hoá trị là sử dụng các thuốc để giết các tế bào ung thư. Hóa trị với bệnh Hodgkin thường là sự kết hợp của nhiều thuốc. Có thể là điều trị hoá chất đơn thuần hoặc sau đó là xạ trị.

Điều trị hóa chất thường được thực hiện theo chu kỳ: một thời kỳ điều trị được kế tiếp bởi một thời kỳ nghỉ để hồi phục sức khỏe, sau đó lại đến một đợt điều trị khác. Hầu hết các thuốc chống ung thư được dùng theo đường tiêm tĩnh mạch, một số thuốc được dùng theo đường uống. Điều trị hóa chất là điều trị hệ thống, có nghĩa là thuốc đi vào dòng máu và đi khắp cơ thể.

Thông thường những bệnh nhân được điều trị hóa chất là những bệnh nhân ngoại trú. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào các thuốc được sử dụng và sức khỏe chung của bệnh nhân, bệnh nhân có thể cần phải nằm lại một thời gian ngắn trong bệnh viện.

Có một số câu hỏi bệnh nhân có thể hỏi bác sĩ để hiểu biết rõ hơn về điều trị hóa chất:

–    Mục đích của điều trị là gì?

–    Các loại thuốc nào sẽ được sử dụng?

–    Các thuốc có gây tác dụng phụ không? Tôi phải làm gì với các tác dụng phụ này?

–    Các tác dụng phụ nào tôi phải báo cáo với bác sĩ?

–    Việc điều trị này sẽ kéo dài trong bao lâu?

–    Tôi có thể tự chăm sóc như thế nào trong quá trình điều trị?

–    Làm sao tôi biết được thuốc đang có tác dụng?

6. Các tác dụng phụ của điều trị

Điều trị bệnh Hodgkin là điều trị mạnh. Khó có thể giới hạn các tác dụng phụ để chỉ có các tế bào ung thư bị phá huỷ. Vì điều trị cũng phá huỷ các tế bào và các mô lành, nó thường gây nên các tác dụng phụ.

Các tác dụng phụ của điều trị ung thư phụ thuộc chủ yếu vào loại và thời gian điều trị. Các tác dụng phụ không giống nhau với mọi người và chúng có thể thay đổi từ đợt điều trị này đến đợt điều trị khác. Các bác sĩ có thể cắt nghĩa cho bệnh nhân các tác dụng phụ có thể có của điều trị và có thể kiểm soát nhiều tác dụng phụ có thể xảy ra trong quá trình điều trị.

Xạ trị

Các tác dụng phụ của xạ trị phụ thuộc vào liều điều trị và phần cơ thể được điều trị. Trong quá trình điều trị bệnh nhân có thể rất mệt mỏi, đặc biệt vào những tuần lễ cuối của điều trị. Nghỉ ngơi là quan trọng nhưng các bác sĩ thường khuyên các bệnh nhân duy trì các hoạt động ở mức có thể được.

Rụng tóc là phổ biến ở vùng được điều trị và da trở nên đỏ, khô, căng và ngứa. Da vùng điều trị cũng có thể trở nên sẫm màu vĩnh viễn.

Khi lồng ngực hoặc vùng cổ được điều trị, bệnh nhân có thể có khô họng, đau và khó nuốt. Đôi khi bệnh nhân có thể có hơi thở ngắn hoặc ho khan. Xạ trị vùng bụng có thể gây nôn, buồn nôn, ỉa chảy hoặc khó chịu khi đi tiểu. Thường việc thay đổi trong chế độ ăn hoặc thuốc có thể khắc phục được các tác dụng phụ này.

Xạ trị cũng có thể gây giảm số lượng các bạch cầu, các tế bào giúp bảo vệ cơ thể khỏi bị nhiễm khuẩn, hoặc giảm các tiểu cầu, các tế bào giúp tạo thành cục máu đông. Nếu điều này xảy ra, bệnh nhân cần được tránh các nguồn gây nhiễm khuẩn hoặc vết thương. Bác sĩ theo dõi một cách rất cẩn thận số lượng tế bào máu của bệnh nhân trong khi điều trị xạ trị. Nếu cần thiết, việc điều trị có thể hoãn lại để số lượng tế bào máu trỏ lại bình thường.

Mặc dù các tác dụng phụ có thể khó xử lý, chúng thường được điều trị và kiểm soát. Cũng cần biết rằng trong nhiều trường hợp, các tác dụng phụ không phải là vĩnh viễn. Tuy nhiên bệnh nhân cũng có thể hỏi bác sĩ về khả năng tác động lâu dài của xạ trị đến khả năng sinh sản và nguy cơ tăng của một ung thư thứ hai sau khi điều trị kết thúc. Mất khả năng sinh sản có thể tạm thời hay vĩnh viễn phụ thuộc vào liệu các tinh hoàn hoặc buồng trứng có bị xạ trị vào không và tuổi của bệnh nhân. Với nam giới, ngân hàng tinh trùng trước khi điều trị có thể là biện pháp chọn lọc. Chu kỳ kinh nguyệt của người phụ nữ có thể bị dừng lại và bệnh nhân có các cơn bốc nóng và khô âm đạo. Các chu kỳ kinh nguyệt thường hay trở lại với những phụ nữ trẻ hơn.

Điu trị hóa chất

Các tác dụng phụ của điều trị hóa chất phụ thuộc chủ yếu vào các thuốc đặc hiệu và liều được dùng cho bệnh nhân. Cũng như với các phương pháp điều trị khác các tác dụng phụ thay đổi theo từng người.

Các thuốc chống ung thư nói chung ảnh hưởng tới các tế bào đang phân chia nhanh. Cùng với các tế bào ung thư còn có các tế bào máu, là các tế bào chống nhiễm khuẩn, giúp máu tạo thành cục máu đông và mang oxy tới tất cả các phần khác của cơ thể. Khi các tế bào máu bị ảnh hưởng, bệnh nhân dễ bị nhiễm khuẩn, dễ bị bầm tím hoặc chảy máu và bệnh nhân thường cảm thấy yếu và mệt mỏi.

Các tế bào chân tóc cũng thường phân chia nhanh, vì vậy điều trị hóa chất có thể dẫn đến rụng tóc. Rụng tóc là một nỗi lo lớn của nhiều bệnh nhân. Một số thuốc chống ung thư chỉ làm cho tóc mỏng đi, trong khi các thuốc khác gây mất lông tóc của toàn cơ thể. Một số người có thể chịu đựng với việc rụng tóc tốt hơn khi biết phải xử lý như thế nào với rụng tóc trước khi bắt đầu điều trị.

Các tế bào của niêm mạc (màng nhầy bên trong) của đường tiêu hóa cũng phân chia nhanh, vì vậy chúng thường bị tổn thương do hóa chất. Vì vậy các tác dụng phụ có thể bao gồm chán ăn, nôn và buồn nôn và/ hoặc đau miệng và môi.

Hầu hết các tác dụng phụ mất đi dần trong các thời kỳ hồi phục giữa các đợt điều trị và sau khi điều trị kết thúc. Tuy nhiên, đôi khi điều trị hóa chất cũng làm mất vĩnh viễn khả năng sinh đẻ.

Bệnh Hodgkin là một căn bệnh thầm lặng, làm tổn thương các cơ quan của cơ thể và rút ngắn tuổi thọ. Chính vì vậy cần phải cần phải được phát hiện và điều trị bệnh sớm để phòng ngừa. Bài viết bệnh Hodgkin là gì? Các nguyên nhân gây bệnh, triệu chứng của bệnh và các cách điều trị bệnh Hodgkin eva365.biz hy vọng các bạn độc giả có cái nhìn đúng hơn về bệnh Hodgkin, từ đó sẽ kiểm soát bệnh dễ dàng hơn.